Skip to content


Advanced search
    Home ‹Portal‹ Board index
  • Change font size
  • FAQ
  • Register
  • Login

ATTACH MANAGER NAME


ATTACHMENT DOWNLOADS POST AUTHOR FORUM TITLE TOPIC TITLE
Kurlop1.rar: 157x
AdminKhảo sát ĐCCT - Địa chất thuỷ vănCông thức Cuốclốp
baigianghedieuhanh.zip: 2410x
AdminTài liệu chuyên ngànhGiáo trình môn hệ điều hành
SE.zip: 2137x
AdminTài liệu chuyên ngànhGiáo trình công nghệ phần mềm
truong dai hoc mo dai chat.rar: 76x
AdminThông tin không xếp mụcQUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐẠI CHẤT
chuyen nganh dao tao.rar: 59x
AdminThông tin không xếp mụcQUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐẠI CHẤT
tinhoccanban.rar: 198x
AdminTài liệu đại cươngTin học cơ bản
g2.zip: 81x
AdminReports, aticlesMapping metamorphic processes by hyperspectral remote sensin
Dinh muc98_giai_doan_anh_vien_tham.rar: 238x
AdminTiêu chuẩn ngànhđịnh mức giải đoán ảnh viễn thám 1998
Công thức Cuốclốp
Bổ sung thêm Roài.
Chủ yếu là tư tưởng làm thôi chú không chỉnh sửa hoàn chỉnh.
Bạn tập làm cho thú vị.
Lưu ý : sử dụng công thức ảnh ==> gán vùng cho ảnh bây giò bạn thay đổi vài giá trị sẽ
thấy công thức cập nhật theo tự động
vấn đề bạn cần một chút hoàn chỉnh nữa là phần mẫu số :)
lưu ý: các % > 10 mới liệt kê cái này có thể dùng format có điều kiện
Bác Phantuhuong rành mấy vụ này lắm. Bác rỗi nhào vô nào.
Attachments
Kurlop1.rar (5.9 KB)
GO TOPIC • VIEWS 731 • COMMENTS 5 • MAKE COMMENT Top
Giáo trình môn hệ điều hành
Giáo trình môn hệ điều hành
xem bản lời phía dưới
Attachments
baigianghedieuhanh.zip (1.78 MB)
GO TOPIC • VIEWS 762 • COMMENTS 2 • MAKE COMMENT Top
Giáo trình công nghệ phần mềm
Có thể tải bằng link này

Giáo trình công nghệ phần mềm

link dưới vẫn chạy xong hơi chậm

download Giáo trình công nghệ phần mềm
trong quá trình down nếu có vấn đề gì về link lỗi xin các bạn thông báo



Lớp tin học địa chất K49 dùng tài liệu này.

Phiên bản Power point dùng cho giáo viên
Attachments
SE.zip (652.29 KB)
GO TOPIC • VIEWS 891 • COMMENTS 2 • MAKE COMMENT Top
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐẠI CHẤT
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐẠI CHẤT TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ
HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC

1. Những chặng đường lịch sử đáng ghi nhớ
1.1. Giai đoạn tiền thân
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào giai đoạn xây dựng cuộc sống mới. Lúc đó Đảng và Chính phủ bắt đầu quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Ngày 6 tháng 3 năm 1956, Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã ra quyết định thành lập trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Những năm đầu mới thành lập, trường có bốn khoa: Cơ khí, Mỏ - Luyện kim, Xây dựng và Hoá. Đến năm 1962 - 1963, trường mở rộng thành 6 khoa: Cơ khí - Luyện kim, Điện, Mỏ - Địa chất, Hoá, Xây dựng và khoa Tại chức.
Tháng 8 năm 1964, cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ lan rộng ra miền Bắc. Để tiếp tục duy trì công tác đào tạo trong hoàn cảnh có chiến tranh, tháng 9 năm 1965, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, trong đó có khoa Mỏ - Địa chất đã sơ tán lên vùng núi tỉnh Lạng Sơn. Tại đây, thầy và trò đã bất chấp bom đạn, khắc phục mọi khó khăn, xây dựng lớp học, phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, nhà ở, tiếp tục công việc giảng dạy và học tập.
Do nhu cầu cán bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và giải phóng miền Nam ngày càng lớn, theo chủ trương của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo), tháng 4 năm 1966, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội ra quyết định thành lập Ban trù bị chuẩn bị thành lập trường Đại học Mỏ - Địa chất. Ngày 8 tháng 8 năm 1966, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 147/CP cho phép thành lập Trường Đại học Mỏ - Địa chất trên cơ sở Khoa Mỏ - Địa chất của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Ngày 15 tháng 11 năm 1966, Trường ĐH Mỏ - Địa chất chính thức khai giảng khoá học đầu tiên. Từ đó, ngày 15 tháng 11 hằng năm được lấy làm ngày truyền thống của trường.
1.2. Giai đoạn sơ tán tại Hà Bắc (1966 - 1974)
Những năm đầu mới thành lập, trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, Nhà trường phải hoạt động phân tán trên địa bàn rộng thuộc các thôn, xã của hai huyện Thuận Thành (Hà Bắc) và Mỹ Văn (Hải Hưng). Lúc đó, trường có 4 khoa: Mỏ, Địa chất, Địa chất Công trình, Trắc địa và 2 ban (Khoa học cơ bản, Tại chức) với 11 bộ môn chuyên môn, 6 bộ môn cơ bản và cơ sở. Khoá đầu tiên (Khóa 11) gồm 623 sinh viên hệ dài hạn và 77 sinh viên hệ chuyên tu. Mọi cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập của Nhà trường lúc này chủ yếu nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của chính quyền và nhân dân địa phương nơi sơ tán. Bên cạnh đó có sự đóng góp không nhỏ công sức của thầy và trò Nhà trường.
Thực hiện chỉ thị số 222/CT-TTg ngày 7/8/1970 của Thủ tướng Chính phủ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất là một trong những đơn vị đầu tiên đưa sinh viên xuống các cơ sở sản xuất vừa học vừa làm ở vùng công nghiệp Than Quảng Ninh, các đoàn Địa chất, Trắc địa - Bản đồ trên khắp mọi miền đất nước.
Trong giai đoạn này, bên cạnh công tác đào tạo, Nhà trường cũng đã thực hiện tốt Nghị quyết 124/NQ - TW ngày 24/6/1966 của Trung ương về công tác nghiên cứu khoa học. Trong những năm 1966 - 1976, thầy giáo và sinh viên đã hoàn thành 10 đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ, 52 đề tài cấp Trường, hàng trăm hợp đồng phục vụ sản xuất và chiến đấu. Tiêu biểu là công trình H8 (sân bay ngầm) do thầy và trò khoa Mỏ cùng đơn vị Công binh thực hiện thành công. Với những đóng góp to lớn vào công trình này Nhà trường đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công Hạng III. Ngoài ra, thầy và trò khoa Trắc địa đã thực hiện công trình đo vẽ bản đồ địa hình cho các tỉnh Hà Bắc, Bắc Thái, Lai Châu, phục vụ kịp thời cho sản xuất và chiến đấu. Những cố gắng nỗ lực đó của thầy và trò Nhà trường đã được các địa phương đánh giá cao và tặng thưởng nhiều bằng khen.
Giai đoạn cuối cùng ở Hà Bắc cũng chính là giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Theo tiếng gọi của Đảng, Nhà trường đã có 1050 cán bộ và sinh viên lên đường nhập ngũ. Hàng trăm người đã trực tiếp tham gia chiến đấu trên các chiến trường A.B.C. Nhiều người trong số họ đã cống hiến xương máu và cả tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc. Theo thống kê chưa đầy đủ, Nhà trường đã có 4 liệt sỹ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhiều đồng chí sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu đã trở lại giảng đường tiếp tục giảng dạy và học tập, góp phần xứng đáng vào việc xây dựng và phát triển Nhà trường. Hiện nay, Nhà trường có gần 100 hội viên Hội cựu chiến binh. Đây là một tổ chức chính trị xã hội mới trong nhà trường, được thành lập năm 2000. Tổ chức này đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ trường và Hội cựu chiến binh thành phố Hà Nội.
1.3. Giai đoạn xây dựng trường ở Phổ Yên - Bắc Thái (1974 - 1984)
Đầu năm 1974, Đảng uỷ, Ban giám hiệu Nhà trường quyết định chuyển toàn bộ cơ sở của trường từ Thuận Thành - Hà Bắc lên Phổ Yên - Bắc Thái, mở đầu một thời kỳ mới trong quá trình xây dựng và phát triển của trường.
Tại đây, thầy và trò Nhà trường một lần nữa phát huy tinh thần tự lực, tự cường, bắt tay vào việc xây dựng lớp học, phòng thí nghiệm, hội trường, nhà ăn, ký túc xá sinh viên và khu tập thể cán bộ công chức. Mặc dù cuộc sống hết sức khó khăn, thiếu lương thực, thực phẩm, thiếu điện, thiếu nước... nhưng với sự nỗ lực vượt bậc, trong một thời gian ngắn, nhà trường đã xây dựng được 19.500m2 nhà cấp bốn trên một diện tích rộng hàng chục ha, đủ đảm bảo cho các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, ăn ở sinh hoạt của cán bộ công chức và sinh viên.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được độc lập thống nhất, Đảng và Nhà nước có chủ trương sắp xếp, xây dựng lại các trường đại học ở miền Nam để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, phục vụ công cuộc xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước.
Trước yêu cầu đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật cho ngành Dầu khí đã có hàng chục cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy của trường hăng hái nhận nhiệm vụ vào Nam công tác. Tháng 4 năm 1977, Đảng uỷ Ban giám hiệu Nhà trường quyết định thành lập khoa Dầu khí để đào tạo các kỹ sư thăm dò khai thác dầu khí, góp phần xây dựng ngành Dầu khí non trẻ ở Việt Nam.
Bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo đại học, năm 1976, trường ĐH Mỏ - Địa chất là một trong những trường đại học đầu tiên ở Việt Nam được Chính phủ cho phép mở bậc đào tạo nghiên cứu sinh. Năm 1977, Nhà trường đã tổ chức thành công Lễ bảo vệ luận án PTS đầu tiên trong các trường đại học kỹ thuật ở nước ta.
Trong thời gian 10 năm ở Phổ Yên - Bắc Thái, Nhà trường đã phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn thiếu thốn để xây dựng trường. Một mặt Nhà trường đã duy trì công tác đào tạo sinh viên, kịp thời cung cấp cán bộ khoa học kỹ thuật cho các ngành. Mặt khác, Nhà trường đã chú trọng đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất. Thời kỳ này Nhà trường đã có hàng chục đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, hàng trăm đề tài cấp trường và hợp đồng phục vụ sản xuất. Mặc dù điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, Nhà trường vẫn duy trì tổ chức định kỳ (hai năm một lần) Hội nghị khoa học của cán bộ và sinh viên, xuất bản đều đặn các Tuyển tập các công trình khoa học của trường.
Những thành tích đạt được của Nhà trường trong những năm ở Phổ Yên - Bắc Thái đã được ghi nhận và thật đáng trân trọng. Tuy nhiên, do Nhà trường ở xa trung tâm Thủ đô nên bị ảnh hưởng tác động của nhiều yếu tố khó khăn, đặc biệt là khó khăn về giao thông, thông tin, làm suy giảm khả năng phát triển của Nhà trường rất nhiều. Trước tình hình đó, thể theo nguyện vọng của thầy và trò Nhà trường, lãnh đạo trường đã tích cực trình bày với các cấp lãnh đạo của Nhà nước, Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp, thành phố Hà Nội xin chuyển địa điểm trường về Hà Nội. Tháng 9 năm 1981, UBND thành phố Hà Nội ra quyết định cấp đất cho Trường xây dựng tại cánh đồng thuộc ba xã: Cổ Nhuế, Phú Minh và Thượng Cát. Từ đó bắt đầu một thời kỳ mới của nhà trường: vừa tiếp tục duy trì mọi hoạt động của Nhà trường ở Phổ Yên - Bắc Thái, vừa tích cực tổ chức xây dựng cơ sở mới ở Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội để sớm đưa toàn bộ Nhà trường về Hà Nội.
1.4. Xây dựng trường chính quy tại Hà Nội
Thực hiện phương châm tranh thủ mọi nguồn vốn, xây dựng đến đâu chuyển về đến đấy, năm học 1982 - 1983 đã có những lớp sinh viên đầu tiên của trường (khoá 26) được học tập ở khu trường mới thuộc địa bàn Hà Nội. Nhờ sự quan tâm của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự giúp đỡ của Bộ than và năng lượng, đến cuối năm 1984, Nhà trường đã xây dựng được 6.500m2 nhà cấp bốn và đã chuyển toàn bộ hoạt động của Nhà trường về Hà Nội.
Tuy được chuyển về Hà Nội, nhưng cơ sở vật chất của Nhà trường còn nhiều thiếu thốn, trường ở xa đường giao thông nên điều kiện đi lại rất khó khăn nhất là những ngày mưa bão. Vì thế các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường còn nhiều hạn chế. Trường chưa ra trường, lớp chưa ra lớp, thầy và trò chưa thật sự yên tâm giảng dạy và học tập.
Năm 1986, thông cảm với những khó khăn của trường, cấp trên đã quyết định giao cho trường cơ sở khách sạn quốc tế đang xây dựng dở dang để sửa chữa thành cơ sở vĩnh cửu của nhà trường. Khu khách sạn này chính là khu trung tâm của trường hiện nay thuộc địa phận xã Đông Ngạc - Từ Liêm - Hà Nội. Tại đây, một lần nữa cán bộ công chức và sinh viên trường Đại học Mỏ - Địa chất lại bắt tay vào xây dựng cải tạo khu trường mới. Bằng quyết tâm và nỗ lực vượt bậc, tranh thủ sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo và các ngành, Nhà trường đã triển khai từng bước có hiệu quả công tác cải tạo và xây dựng trường mới.
Giai đoạn 1990 - 1996 được coi là thời kỳ phát triển mới của Nhà trường với hai sự kiện mở đầu quan trọng. Tháng 4 năm 1990, Nhà trường đã thực hiện cuộc vận động dân chủ hoá bằng việc bầu Hiệu trưởng nhiệm kỳ 1990 - 1994 và tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Trường (15/11/1966 - 15/11/1991). Những năm tiếp theo, Nhà trường phát triển mạnh mẽ công tác đào tạo theo chủ trương cải cách giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm mục tiêu đổi mới nội dung và chương trình đào tạo, thực hiện quy trình đào tạo mới, ổn định và từng bước tăng cường cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất.
Năm 2001, Nhà trường đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Trường (15/11/1966 - 15/11/2001) và đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất. Sau đây là những thành tựu đạt được của Nhà trường trong hơn 35 năm xây dựng và phát triển.
2. Những thành tựu đã đạt được trong 38 năm xây dựng và phát triển
2.1. Về công tác đào tạo
Đã đào tạo cho đất nước 27.000 kỹ sư, 179 thạc sỹ, 148 tiến sĩ thuộc 32 chuyên ngành Đại học, 22 chuyên ngành Tiến sĩ, 12 chuyên ngành Thạc sĩ trong các lĩnh vực Mỏ, Địa chất, Dầu khí, Trắc địa - Bản đồ, Kinh tế - QTKD và Công nghệ thông tin. Trong số đó đã đào tạo hàng chục kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ cho nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào anh em.
Thường xuyên quan tâm cải tiến công tác giảng dạy, đặc biệt trong 10 năm gần đây đã thực hiện có kết quả chương trình cải cách giáo dục theo chiều sâu với hệ thống chương trình giảng dạy đổi mới (về nội dung và thời gian) nhằm từng bước nâng cao chất lượng đào tạo. Trường Đại học Mỏ - Địa chất là một trong những trường đi đầu trong việc tổ chức thực hiện nghiêm túc, có kết quả chủ trương cải cách giáo dục ở bậc đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Luôn làm tốt công tác đào tạo trong mọi hoàn cảnh, không ngừng mở rộng quy mô đào tạo và đa dạng hoá các loại hình đào tạo. Nhà trường đã triển khai đào tạo các hệ kỹ sư: chính quy, tại chức cả trong trường và ngoài trường, trên địa bàn rộng khắp cả nước, trong đó đặc biệt chú trọng các vùng Công nghiệp khai thác than và dầu khí (Quảng Ninh, Vũng Tàu), các khu vực miền Trung (Quảng Ngãi, Tây Nguyên) và miền núi (Bắc Thái, Lào Cai, Vĩnh Phú).
Từng bước hoàn thiện nội dung, chương trình, tăng cường trang thiết bị đào tạo cho cả bốn cấp cao đẳng, đại học, cao học, nghiên cứu sinh, với quy mô đào tạo ngày càng lớn. Hiện nay nhà trường đã tuyển sinh được 47 khoá đại học, 6 khoá cao đẳng, 10 khoá cao học và hàng chục khoá nghiên cứu sinh.
2.2. Về nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà trường, đồng thời là một điều kiện, động lực quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chất lượng đào tạo và vị thế xã hội của Nhà trường. Với lực lượng khoa học công nghệ khá mạnh và ngày càng phát triển, Nhà trường đã đảm nhiệm, hoàn thành chất lượng cao 84 đề tài cấp Nhà nước, 156 đề tài cấp Bộ cùng hàng nghìn hợp đồng KH - CN phục vụ các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, phục vụ sản xuất của các đơn vị Trung ương và các địa phương trong cả nước. Phần lớn các đề tài NCKH của trường đáp ứng được những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, thuộc các lĩnh vực điều tra, quy hoạch, khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường và quản lý đất đai lãnh thổ.
Nhà trường cũng đầu tư, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, đặc biệt ưu tiên các cán bộ giảng dạy trẻ thực hiện đề tài cấp cơ sở. Đã có 537 đề tài cấp cơ sở được triển khai với tổng kinh phí đầu tư đạt trên 500 triệu đồng, thu hút hàng nghìn cán bộ tham gia.
Công tác nghiên cứu khoa học của của sinh viên cũng được Nhà trường quan tâm thoả đáng. Từ ngày thành lập đến nay, Nhà trường đã tổ chức 15 hội nghị khoa học của sinh viên với gần 2000 báo cáo, thu hút hơn 2000 lượt sinh viên tham gia NCKH. Hội nghị khoa học sinh viên hằng năm đã chọn ra hàng chục báo cáo xuất sắc gửi tham dự giải "Sinh viên NCKH" của Bộ Giáo dục và Đào tạo và giải VIFOTEC do Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam tổ chức. Kết quả đã được 42 giải Sinh viên NCKH và 16 giải VIFOTEC.
Những năm gần đây, Nhà trường đã triển khai nhiều biện pháp, tạo điều kiện tốt để sinh viên nghiên cứu khoa học. Đây là hoạt động góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận, học hỏi và ứng dụng phương pháp nghiên cứu khoa học ngay từ khi còn trên ghế nhà trường. Chính thông qua hoạt động NCKH, trình độ sinh viên ngày càng được nâng cao.
Nhìn chung, các công trình NCKH được thực hiện và các báo cáo khoa học được công bố tại các Hội nghị khoa học của trường đã có rất nhiều công trình được ứng dụng có hiệu quả, thiết thực phục vụ sự phát triển kinh tế của đất nước. Một số đề tài đã được nhận giải "công trình khoa học trẻ" và được Nhà nước cấp bằng sáng tạo. Các công trình NCKH đã góp phần tích cực nâng cao trình độ cán bộ giảng dạy và sinh viên.
Có được kết quả trên trước hết phải kể đến sự quan tâm của Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường trong việc xây dựng các phòng thí nghiệm công nghệ mới để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Hiện nay, Nhà trường đã thành lập 9 trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ thuộc các lĩnh vực Khai thác Mỏ, Cơ điện Mỏ, Địa kỹ thuật, Địa chất môi trường, Trắc địa - Địa chính và Công nghệ tin học để tạo điều kiện cho các nhà khoa học của trường hoạt động
2.3. Về công tác tổ chức và cán bộ
Công tác tổ chức và cán bộ luôn được coi là một nhiệm vụ trọng yếu của Nhà trường góp phần đưa trường đi vào thế ổn định và phát triển. Cơ cấu học thuật và quản lý của nhà trường được sắp xếp theo hệ thống 3 cấp Trường - Khoa - Bộ môn. Hiện nay trường có: 6 khoa với 36 bộ môn chuyên môn; 1 bộ môn trực thuộc Ban giám hiệu; 3 khoa làm công tác quản lý đào tạo: Khoa Sau đại học, khoa Tại chức, khoa giáo dục quốc phòng; 15 phòng, ban và một số đơn vị trực thuộc.
Nhà trường đã xây dựng và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý tương đối đồng bộ, có trình độ chuyên môn cao. Theo số liệu tháng 12/2001, tổng số cán bộ biên chế và hợp đồng của nhà trường là 708 người, trong đó 590 người trong biên chế và hơn 100 hợp đồng lao động tạo nguồn bổ sung.
Trong số 408 cán bộ giảng dạy của nhà trường có 251 người có trình độ trên đại học, trong đó có 11 GS, 51 PGS, 180 GVS, 14 TSKH, 118 TS và 89 cán bộ có trình độ ThS, chiếm tỷ lệ trên 50%, một tỷ lệ cao so với các trường đại học trong cả nước.
2.4. Về xây dựng cơ sở vật chất
Trong thời gian sơ tán ở Thuận Thành, (Bắc Ninh) và Phổ Yên (Bắc Thái), thầy và trò Nhà trường đã tự xây dựng hàng nghìn mét vuông nhà các loại, tự trang trải yêu cầu diện tích về hội trường, giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, nhà ở cán bộ, sinh viên....
Đến nay tại khu vực Đông Ngạc - Cổ Nhuế, Nhà trường đã xây dựng được một cơ sở giảng dạy, học tập, làm việc với gần 12.000m2 nhà vĩnh cửu và từng bước đầu tư chiều sâu về trang thiết bị thí nghiệm với kinh phí hàng chục tỷ đồng. Ngoài ra, Nhà trường đã xây dựng cơ sở thực tập ngoài trường ở Lạng Sơn, cơ sở thí nghiệm phục vụ đào tạo ở Vũng Tàu, Quảng Ninh.
Nhà trường cũng hết sức coi trọng việc cải thiện từng bước nhu cầu nhà ở và cơ sở hạ tầng cho cán bộ công chức và sinh viên. Hiện nay nhà trường đã xây dựng được khu ký túc xá sinh viên khang trang, sạch đẹp với hai nhà ở 5 tầng và 1 nhà ăn 2 tầng, tổng diện tích 5.500m2. Năm 2000 đã hoàn thành 2 công trình: Nhà thí nghiệm, lớp học 5 tầng và Giảng đường 300 chỗ. Năm 2001, nhà trường đã được Bộ GD-ĐT phê duyệt dự án cải tạo và xây dựng nhà C thành 12 tầng, nhà ký túc xá sinh viên 5 tầng và triển khai dự án xin đất mở rộng trường (20-50 ha), dự án quy hoạch tổng thể phát triển trường đến năm 2010. Các khu tập thể của cán bộ công chức, nhà trường từng bước quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng. Do đó đã tạo lòng tin và phấn khởi cho cán bộ công chức và sinh viên yên tâm công tác, học tập.
2.5. Về hợp tác quốc tế
Trong 35 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường luôn luôn quan tâm phát triển quan hệ hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường Đại học, các Viện nghiên cứu, các doanh nghiệp nước ngoài.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Nhà trường lại càng coi trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Trước đổi mới, hợp tác quốc tế chủ yếu được tiến hành với các đối tác thuộc các nước XHCN (Liên Xô và Đông Âu). Hiện nay, Trường đã có quan hệ chính thức với trên 30 trường đại học, các tổ chức khoa học và doanh nghiệp các nước trên thế giới. Sự hợp tác quốc tế này đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường đào tạo được một đội ngũ cán bộ có trình độ cao trở thành những cán bộ chủ chốt trong chuyên môn cũng như trong quản lý của nhà trường.
2.6. Về công tác chính trị tư tưởng, xây dựng đời sống mới và hoạt động xã hội
Nhà trường luôn bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, và tổ chức thực hiện nghiêm túc có hiệu quả các Chỉ thị, Nghị quyết của các tỉnh, thành nơi trường đóng quân. Thường xuyên tổ chức các đợt thi đua, xây dựng đời sống văn hoá mới thông qua các hoạt động văn hoá, thể thao, sinh hoạt tập thể. Chính vì vậy mà dù trong thời kỳ chiến tranh cũng như hoà bình, cán bộ sinh viên Nhà trường luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đoàn kết nhất trí, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo giúp đỡ gia đình cán bộ và sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cũng được duy trì thường xuyên. Hoạt động của các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên của Nhà trường luôn được cấp trên đánh giá cao và công nhận là đơn vị vững mạnh.
3. Những phần thưởng cao quí mà Nhà nước trao tặng
Trong 38 năm phấn đấu xây dựng và phát triển, đặc biệt là từ năm 1990 đến nay, Nhà trường luôn phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất chiến đấu. Nhà trường đã được Nhà nước và các cấp khen tặng nhiều phần thưởng cao quý, đặc biệt trong đó có:
01 Huân chương độc lập hạng I
01 Huân chương độc lập hạng II
01 Huân chương độc lập hạng III
01 Huân chương lao động hạng I
01 Huân chương lao động hạng II
05 Huân chương lao động hạng III
01 Huân chương chiến công hạng III
Bộ môn Khai thác hầm lò (Khoa Mỏ) được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Ngoài ra còn có nhiều tập thể và cá nhân được Nhà nước tặng Huân chương Lao động, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo, Uỷ ban nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội cấp tỉnh, thành phố tặng bằng khen.
4. Những bài học kinh nghiệm chủ yếu
Nhìn lại chặng đường đã qua chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu sau đây:
4.1. Sự đoàn kết nhất trí và sự lãnh đạo vững vàng của Đảng uỷ và Ban giám hiệu qua các thời kỳ là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Nhà trường.
4.2. Đội ngũ cán bộ của Nhà trường với phẩm chất chính trị vững vàng, giỏi về chuyên môn và đồng bộ về ngành nghề là động lực cơ bản góp phần xây dựng và phát triển Nhà trường, đảm bảo chất lượng đào tạo, nâng cao uy tín của Nhà trường đối với xã hội.
4.3. Sự kế thừa và phát huy truyền thống của Nhà trường trong 38 năm qua là cơ sở vững chắc cho quá trình đi lên của Nhà trường.
4.4. Nắm vững và vận dụng kịp thời đường lối đổi mới của Đảng về công tác giáo dục - đào tạo. Từng bước xây dựng và hoàn thiện mục tiêu, chương trình nhiệm vụ giáo dục đào tạo phù hợp với nền kinh tế thị trường. Đây là bước đi đúng đắn của Nhà trường trong thời gian qua. Do đó, vị thế của trường ngày càng nâng cao ở trong nước và trên thế giới.
5. Những nhiệm vụ và giải pháp cơ bản để phát triển Nhà trường trong giai đoạn 2001 - 2010
5.1. Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí cùng nhau xây dựng trường ổn định vững chắc về chính trị, tạo mọi điều kiện để phát triển trường trên tất cả các mặt: cơ sở vật chất, đào tạo, nghiên cứu khoa học v.v.... Phấn đấu xây dựng trường trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu có chất lượng cao đồng thời là một Trường văn hoá; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công chức và sinh viên.
5.2. Xây dựng chiến lược cán bộ đến năm 2010 với quy mô khoảng 800 đến 1.000 cán bộ giảng dạy để phù hợp với quy mô đào tạo từ gần 9.000 sinh viên hiện nay lên khoảng gần 15.000 sinh viên vào năm 2010.
Để đạt được số lượng cán bộ nói trên với chất lượng tốt cần phải chú ý chọn lọc, đào tạo và tuyển dụng những sinh viên xuất sắc và giỏi để gửi đi đào tạo tiếp ở nước ngoài. Có kế hoạch bố trí các cán bộ khoa học có trình độ cao ở trong và ngoài trường bồi dưỡng giúp đỡ các sinh viên để đạt trình độ tuyển dụng theo yêu cầu của Nhà trường. Phấn đấu hàng năm có khoảng 30 - 50 cán bộ giảng dạy trẻ được bồi dưỡng về chuyên môn ở nước ngoài. Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ giảng dạy trẻ ở các bộ môn.
5.3. Tập trung xây dựng cơ sở vật chất từ nay đến năm 2010 về hạ tầng như: lớp học, nơi làm việc cho cán bộ công chức, thư viện, ký túc xá sinh viên, các phòng thí nghiệm, các bãi thực tập v.v... Phấn đấu đến năm 2003 sẽ xây xong nhà C12 tầng với kinh phí 51 tỷ đồng. Hoàn thành dự án xin thêm đất mở rộng trường với quy mô từ 20 ha đến 35 ha, hoàn thành việc mở đường từ trường ra cao tốc. Tiếp tục cải tạo và nâng cấp các khu nhà hiện có để đảm bảo công tác giảng dạy và học tập của Nhà trường.
5.4. Tiếp tục đổi mới và phát triển công tác đào tạo theo hướng tăng quy mô đào tạo lên 12.000 sinh viên vào năm 2005 và gần 15.000 sinh viên vào năm 2010. Mở rộng và đa dạng hoá các ngành đào tạo, thành lập thêm các khoa mới, mở thêm nhiều ngành mới để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Tăng cường công tác đào tạo tại chức, đào tạo từ xa và tăng quy mô đào tạo sau đại học.
Đẩy mạnh công tác biên soạn bài giảng giáo trình và các tài liệu chuyên môn.
5.5. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ trong cán bộ và sinh viên, phấn đấu xây dựng trường Đại học Mỏ - Địa chất thực sự là một trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ có chất lượng cao về các lĩnh vực, chuyên môn của trường. Tăng cường với các trung tâm trong trường để làm tốt công tác chuyển giao công nghệ và phục vụ sản xuất.
5.6. Tăng cường hiệu quả các hoạt động quan hệ quốc tế trong việc hợp tác với trường đại học ở các nước về việc trao đổi cán bộ giảng dạy, trao đổi sinh viên, hợp tác NCKH và liên kết đào tạo đại học, sau đại học. Trong thời gian tới cần chú đặc biệt hợp tác với các trường đại học ở Nga, Đức, Nhật, Ba Lan, Hàn Quốc, úc, Hà Lan, Đan Mạch, Trung Quốc, Séc, Pháp và một số nước khác trong khu vực và thế giới. Phấn đấu để có các dự án về đào tạo, về tăng cường nguồn lực cho đào tạo và NCKH.
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ trường Đại học Mỏ - Địa chất; với truyền thống tốt đẹp của 38 năm xây dựng, trưởng thành, với tinh thần đoàn kết nhất trí và nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ, sinh viên trong trường nhất định chúng ta sẽ xây dựng Trường Đại học Mỏ - Địa chất thân yêu thành trường đại học tiến trong những năm đầu thế kỷ XXI, có đủ khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đào tạo, NCKH mà Đảng, Nhà nước giao phó.
Attachments
truong dai hoc mo dai chat.rar (17.31 KB)
GO TOPIC • VIEWS 575 • COMMENTS 1 • MAKE COMMENT Top
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐẠI CHẤT
DANH MỤC CÁC CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC


STT NGÀNH ĐÀO TẠO NGÀY THÀNH LẬP
I. Khoa Mỏ Tháng 11 năm1966
1 Khai thác mỏ
2 Khai thác mỏ lộ thiên
3 Khai thác mỏ hầm lò
4 Xây dựng công trình ngầm và mỏ
5 Máy và thiết bị mỏ
6 Điện khí hoá mỏ
7 Tự động hoá xí nghiệp mỏ và dàu khí
8 Tuyển khoáng
9 Cơ - Điện mỏ
10 Cơ - Tuyển
11 Kỹ thuật điện - Điện tử
II. Khoa Địa chất Năm 1977
1 Địa chất
2 Địa chất công trình - Địa kỹ thuật
3 Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình
III. Khoa Dầu khí Thang7 năm 1977
1 Khoan thăm dò - Khảo sát
2 Khoan khai thác dầu khí
3 Thiết bị dầu khí
4 Địa vật lý
5 Địa chất dầu khí
6 Lọc hoá dầu
IV. Khoa Trắc địa Thang11 năm 1966
1 Trắc địa
2 Bản đồ
3 Trắc địa mỏ
4 Địa chính
V. Khoa Kinh Tế - Quản trị kinh doanh Tháng 01 năm 2000
1 Quản trị kinh doanh mỏ
2 Quản trị kinh doanh địa chất
3 Quản trị kinh doanh dầu khí
4 Kinh tế tài nguyên - môi trường Mỏ - Địa chất
5 Kế toán doanh nghiệp
VI. Khoa Công nghệ Thông tin Tháng 11 năm 2002
Tin học trắc địa
Tin học mỏ
Tin học địa chất
Tin học kinh tế


DANH MỤC CÁC CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THẠC SỸ

STT NGÀNH ĐÀO TẠO MÃ SỐ
1 Khai thác mỏ 2.08.00
2 Trắc địa 2.16.00
3 Địa chất tăm dò 1.06.13
1.06.14
1.06.15
4 Địa chất thuỷ văn 1.06.08
5 Địa vật lý 1.02.24
6 Máy và thiết bị mỏ 2.01.07
7 Mạng & hệ thống điện, cung cấp điện & điện khí hoá 2.03.01
8 Xây dụng mỏ 2.08.07
9 Kỹ thuật thăm dò mỏ khoáng sản
10 Địa chất công trình
11 Tuyển khoáng
12 Kinh tế mỏ - Địa chất
13 Bản đồ


















DANH MỤC CÁC CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO TIẾN SỸ

STT NGÀNH ĐÀO TẠO MÃ SỐ
1 Địa chất công trình 1.06.09
2 Địa chất học tìm kiếm và thăm dò 1.06.12
3 Kỹ thuật thăm dò mỏ khoáng sản có ích 1.06.15
4 Trầm tích học 1.06.16
5 Các phương pháp địa vật lý và địa hoá học tìm kiếm và thăm dò mỏ khoáng sản 1.06.17
6 Máy mỏ 2.01.17
7 Tự động hoá quá trình sản xuất 2.05.18
8 Trắc địa mỏ 2.08.01
9 Khai thác hầm lò và vận hành mỏ than, mỏ quặng và phi quặng 2.08.04
10 Khai thác lộ thiên và vận hành mỏ than, quặng, phi quặng và than bùn 2.08.05
11 Tuyển khoáng 2.08.10
12 Địa chất thuỷ văn 2.06.08
13 Địa chất học 1.06.01
14 Thạch học, khoáng học, trầm học 1.06.03
15 Sinh khoáng học 1.06.11
16 Cơ điện mỏ 2.04.12
17 Trắc địa đại cương 2.16.01
18 Thiên văn trắc địa 2.16.02
19 ảnh hàng không, đo vẽ địa hình bằng ảnh hàng không 2.16.04
20 Bản đồ 2.16.03
21 Xây dựng mỏ 2.16.03
22 Tổ chức và Quản lý Sản xuất - Kinh tế mỏ - Địa chất 5.02.21
Attachments
chuyen nganh dao tao.rar (8.92 KB)
GO TOPIC • VIEWS 575 • COMMENTS 1 • MAKE COMMENT Top
Tin học cơ bản
hơi cũ và lạc hậu
mang tinh lịch sử :)
Attachments
tinhoccanban.rar (1.61 MB)
GO TOPIC • VIEWS 691 • COMMENTS 1 • MAKE COMMENT Top
Mapping metamorphic processes by hyperspectral remote sensin
Mapping metamorphic processes by hyperspectral remote sensing methods: an example from
contact metamorphism at Ubehebe Peak, California
Patrick K. Kozak* (South Dakota School of Mines and Technology
Rapid City, South Dakota, 57702-3995, USA)
Edward F. Duke (South Dakota School of Mines and Technology)
Attachments
g2.zip (303.66 KB)
GO TOPIC • VIEWS 468 • COMMENTS 1 • MAKE COMMENT Top
định mức giải đoán ảnh viễn thám 1998
định mức giải đoán ảnh viễn thám 1998
Hơi cũ nhưng có thể tham khảo
Attachments
Dinh muc98_giai_doan_anh_vien_tham.rar (629.3 KB)
GO TOPIC • VIEWS 660 • COMMENTS 0 • MAKE COMMENT Top
VIEW TOPIC ATTACHMENTS 81 • Page 1 of 11 • 1, 2, 3, 4, 5 ... 11

Geocommunity portal
Sponsor: E4sales | Thiết kế web
Powered by phpBB © 2000 - 2008 phpBB Group Thiết kế, Việt hóa Portal bởi Geosoftvn © PlusXL 4.0 portal